NGÀY TRỞ VỀ

VRNs (22.04.2013) – Sài Gòn – Trong bữa cơm gia đình, cha tôi tình cờ kể lại câu chuyện từ thuở nhỏ của tôi cho tất cả 5 chị em chúng tôi nghe. Câu chuyện đó tựa như truyện về một cổ tích, càng nghe tôi càng nhận thấy có biết bao nhiêu điều lạ lùng cùng với sự sắp đặt quan phòng của Chúa dành cho gia đình tôi suốt những năm tháng qua.

Thuở ấy, vào những năm gần cuối thế kỉ XX, gia đình tôi vẫn còn là những tín đồ của Phật giáo, họ hàng hai bên nội, ngoại tôi đều là tín đồ của Phật giáo. Đến năm 1992, tất cả gia đình chúng tôi gồm 7 thành viên chính thức gia nhập vào Ki-tô giáo, bởi một phép lạ xảy ra …

Năm 1990, gia đình tôi khi ấy chỉ có 6 thành viên gồm cha mẹ, 2 chị, tôi và đứa em gái. Tất cả cùng sống chung với nhau dưới gầm cầu xóm Bóng (gần Tháp Bà Ponaga – Nha Trang). Ngày ngày, cha tôi đi làm thợ mộc để nuôi 5 mẹ con chúng tôi. Nhiều lúc gia đình tôi phải chịu cảnh bữa đói bữa no, cùng với thời tiết thay đổi thất thường, nắng mưa triền miên. Nên nhiều lúc chỗ tạm trú của gia đình tôi lại là nơi chứa đầy những vũng nước mưa, được tích tụ sau những ngày bão đổ về. Thấy cảnh vợ con nheo nhóc ướt sũng sau khi cơn mưa chợt đến, cha tôi quyết định đưa mẹ con chúng tôi rời khỏi chốn tạm bợ ấy. Suốt một ngày lang thang tìm nơi trú ẩn, cha tôi đưa 5 mẹ con chúng tôi đến dừng chân ở ngay Hải Đảo, mà ngày nay đổi tên là đảo Chăm-Pa Nha Trang. Sau khi xem xét thật kĩ xung quanh, chờ lúc chập tối hẳn và cha tôi lên kế hoạch dựng một ngôi nhà với chất liệu được làm hoàn toàn từ dừa. Cuối cùng đã hoàn tất, cả gia đình 6 người chúng tôi chìm sâu vào giấc ngủ say đến sáng. Sau khi tỉnh dậy, chúng tôi thật bất ngờ trước ánh mắt của bao nhiêu là người, đang đổ dồn về phía căn nhà lá đơn sơ của gia đình tôi. Khi nhìn thấy như vậy, cha tôi đứng lên tìm cách nói cho mọi người hiểu và thông cảm vì sao chúng tôi lại làm như vậy. Một số an ninh cùng trưởng khu vực ở Hải Đảo đến, họ yêu cầu chúng tôi phải tháo gở bỏ ngay tất cả công trình ấy xuống, trả lại nơi này không gian như thuở ban đầu của nó. Cha tôi hết lời cầu xin lòng nhân từ nơi họ, cuối cùng họ cũng đồng ý cho gia đình tôi ở tạm hết ngày hôm nay, nhưng đến ngày mai chúng tôi phải gỡ xuống hết cho họ. Một ngày trôi qua nhanh chóng, rồi đến ngày thứ hai, một tuần và một tháng trôi qua mà ngôi nhà lá đơn sơ của chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn, không bị mất một cây cột nào. Mặc dù ông trưởng khu vực Hải Đảo đã nhiều lần đến nhắc nhở, nhưng cha tôi khẩn thiết xin ông hãy nhắm mắt cho qua, để gia đình tôi có được nơi tạm trú cho đến khi tìm được nơi ở mới.

Và ngày định mệnh cũng tìm đến gia đình chúng tôi, chính nhờ sự định mệnh ấy đã đem đến cho cả gia đình chúng tôi bước ngoặc mới trong thế giới tình yêu bao la của Thiên Chúa.

Một buổi sáng như thường lệ, gia đình tôi đang dùng cơm sáng, có người đàn ông trạc tuổi 40 đi dạo xung quanh nơi ở của chúng tôi, ông ấy cúi người xuống nhặt từng bẹ dừa khô về làm củi dùng cho việc sinh hoạt trong gia đình. Sau đó ông đến bắt chuyện với cha mẹ tôi, và qua cuộc nói chuyện  đó ông đã quyết định đưa cả gia đình chúng tôi sang bên kia bờ sông, ở cùng với gia đình của ông. Đối diện Hải Đảo có một cái đảo khác nằm ngay giữa dòng sông Cái, nơi ấy được gọi với cái tên là “Gò Dê”, mà ngày nay đổi tên là đảo Xóm Đạo Ngọc Thảo. Sau này chị em chúng tôi gọi người đàn ông tốt bụng ấy là “Bác Bốn”, gia đình bác ấy và tất cả những người dân sống trên đảo Ngọc Thảo này điều theo đạo Thiên Chúa. Riêng gia đình tôi đến sống trên mảnh đất xóm đạo này được một năm nhưng vẫn là dân ngoại đạo, khi đó tôi được 3 tuổi và đứa em gái của tôi lên 1 tuổi.
Từ khi được sinh ra đến năm tôi lên 3 tuổi, tôi vẫn là đứa trẻ bình thường như bao đứa trẻ cùng trang lứa khác. Đi đứng, chạy nhảy, ăn nói vẫn bình thường cho đến khi cả gia đình tôi đặt chân đến sống trên đảo Ngọc Thảo được 1 năm.

Năm 1992, tức là 2 năm sau, một ngày định mệnh xảy đến với tôi trong vụ tai nạn. Hôm đó, tôi đang chơi cùng các bạn gần nhà, sơ ý trượt chân té ngã từ trên bậc cấp thềm nhà của bác Bốn xuống đất. Tôi chỉ bị bất tỉnh chút xíu và sau đó đã tỉnh dậy, mọi thứ trở lại bình thường như không có chuyện gì. Qua ngày hôm sau, tôi ăn uống không được và nằm sốt mê man suốt 2 ngày, tôi được đưa đến bệnh viện tỉnh Khánh Hòa để làm tất cả các cuộc xét nghiệm và chụp XQ. Vì cha tôi cho rằng, chính cái vụ té ngã ấy là nguyên nhân làm tôi trở nên sốt mê man như vậy, nêu yêu cầu bệnh viện tỉnh kiểm tra thật kĩ. Qua các cuộc kiểm tra, bác sĩ đưa ra kết quả tôi bị bệnh “Tin Tích” dẫn đến “Lao Não”, cần chuyển vào Sài Gòn gấp để điều trị. Ngay sau đó, vợ chồng bác Bốn kêu gọi sự giúp đỡ, quyên góp của tất cả bà con trên đất Ngọc Thảo để giúp tôi có đủ số tiền vào Sài Gòn chữa trị. Có một số ông bà cao tuổi trong xóm làng đến thăm hỏi gia đình tôi về sức khỏe của tôi, họ nhìn thấy tôi thì tất cả đều lắc đầu cho rằng tôi khó qua được. Vì bởi lẽ khi ấy, tôi chỉ có hơi thở là biểu tượng của sự sống, nhưng cha tôi quả quyết rằng: “nó còn thở là còn cứu được”.

Với niềm tin ấy, cha bế tôi vào Sài Gòn chữa trị. Trên chuyến tàu đi vào Sài Gòn, không biết do sự tình cờ hay là do Chúa an bài sắp đặt? Hai cha con chúng tôi được xếp chỗ ngồi cạnh 2 vị bác sĩ, qua cuộc nói chuyện xã giao với 2 vị bác sĩ ấy, cha tôi như người gặp được sự may mắn vì chính 2 vị bác sĩ ấy chuyên về căn bệnh của tôi. Và sau đó, tôi được 2 vị bác sĩ ấy chăm sóc suốt chuyến đi đến Sài Gòn. Vừa đến Sài Gòn, tôi được đưa ngay đến bệnh viện Trung Ương Nhi Đồng để kiểm tra, và sau đó tôi lại chuyển qua bệnh viện Phạm Ngọc Thạch ở và điều trị. Trong căn phòng tôi nằm điều trị có hết thảy là 10 đứa trẻ đều có chung một căn bệnh giống tôi, theo như lời cha tôi kể lại là trường hợp của tôi nặng hơn tất cả những đứa trẻ khác, và là bệnh nhân nghèo nhất trong số tất cả những đứa trẻ hiện diện trong phòng này, nên được 2 vị bác sĩ ấy lo tất cả mọi chi phí điều trị. Việc truyền thức ăn và các loại thuốc bổ vào cơ thể tôi cứ cách 3 tiếng trong ngày là 1 lần, nên mỗi ngày cha tôi điều lãnh xắp  vé số đi bán dạo khắp mọi con đường ở Sài Gòn, để có đủ số tiền lo thức ăn và thuốc bổ truyền vào cho tôi mỗi ngày. Tình cờ cha tôi nghe tin đồn rằng, sau lưng bệnh viện Phạm Ngọc Thạch có một bức tượng Đức Mẹ rất linh thiêng, ông đã tò mò tìm đến nơi đó cầu nguyện. Trong thâm tâm ông biết chính mình là người ngoại giáo, không phải là người công giáo nhưng ông vẫn cứ đến nơi đó cầu nguyện. Vì cha tôi tin Đức Mẹ sẽ nhậm lời cầu nguyện chân thành của ông. Mỗi ngày cha tôi đều tìm đến cầu xin nơi tượng Đức Mẹ, và cũng chính là những ngày cha tôi bán hết sắp vé số trên tay trong vòng 2 tiếng. Cứ thế ngày qua ngày, thời gian trôi qua nhanh chóng, hai cha con tôi sông nơi bệnh viện Phạm Ngọc Thạch gần 1 năm. Trong suốt thời gian nằm viện, cha tôi nhiều lần như muốn gục ngã và buông xuôi khi chứng kiến tận mắt những đứa trẻ nằm chung phòng với tôi lần lượt đi vào cõi chết, nhưng cuối cùng chỉ có duy nhất mình tôi còn sống sót trong 10 đứa trẻ ấy. Tuy nhiên, bác sĩ nói tôi sẽ không bao giờ nói lại được, cũng như chưa tự đi đứng được như trước đây mặc dù đã được chữa hết 2 căn bệnh “Tin Tích và Lao Não”. Nhận thấy nơi tôi đã hết bệnh, cha tôi quyết định đưa tôi trở về lại Nha Trang. Trước khi trở về, cha tôi bế tôi đến nơi tượng Đức Mẹ linh thiêng ấy và cầu nguyện, ông xin Đức Mẹ hãy ban cho tôi nói được 2 tiếng ” Cha, Mẹ” thì ông hứa sẽ đưa cả gia đình tôi trở vào đạo Thiên Chúa. Còn việc sinh hoạt của tôi, ông xin Đức Mẹ chỉ dạy cho ông biết cách làm sao cho tôi sớm sinh hoạt bình thường như bao đứa trẻ cùng trang lứa. Sau khi cầu nguyện xong, hai cha con tôi tạm biệt các bác sĩ trong bệnh viện và cha tôi hứa với họ sẽ đưa tôi quay trở lại để tái khám theo định kì.
Ngày trở về của tôi, tất cả bà con trong xóm đạo Ngọc Thảo từ già đến trẻ, trai gái trong xóm làng có bao nhiêu người cư ngụ ở đây đều ra đứng chật cứng bến đò và dọc ven bờ sông để chào đón một đứa trẻ như tôi trở về. Cảnh tượng ấy, khi nghe chính miệng cha tôi kể lại, trong lòng tôi tràn ngập niềm hạnh phúc không sao tả siết. Đò đưa hai cha con tôi cập đến bến Ngọc Thảo, mọi người lũ lượt chạy đến quay xung quanh hai cha con tôi, họ thăm hỏi dồn dập khiến cho cha tôi không trả lời kịp. Khi ấy, tôi ngước nhìn thấy mẹ tôi đang bế đứa em trai được mấy tháng tuổi trên tay, tôi bật tiếng gọi: “mẹ ơi”. Cha tôi giật mình khi nghe tiếng nói của tôi thốt ra, ông quay sang hỏi tôi: “Nguyệt, con vừa gọi gì đó? con gọi lại cho cha nghe được không?” Tôi nhìn ông và nói: “cha ơi”, ông nghe xong thì quá xúc động đến mức không còn đứng vững được nữa, ông ngã quỵ xuống đất mà khóc. Khi ấy tôi cũng bị ngã theo ông, vì tôi đang được ông bế trên tay, mọi người đến đỡ hai cha con tôi dậy, và hỏi cha tôi đã có chuyện gì xảy ra khiến ông xúc động đến như vậy? Sau khi bình tỉnh, cha tôi đem mọi chuyên xảy ra ở Sài Gòn kể hết cho tất cả mọi người cùng nghe và họ cùng nói: “Đúng là phép lạ”.

Câu chuyện này đến bây giờ mọi người trong xóm đạo Ngọc Thảo, nơi tôi đang sống, ai ai cũng điều nhớ đến và mỗi lần trông thấy tôi là họ lại kể về chuyện đó. Sau khi tôi được ơn chữa lành bệnh và nói lại được, 4 ngày sau gia đình tôi gồm 7 thành viên chính thức trở lại đạo Thiên Chúa qua bí tích Rửa Tội. 15 năm sau, em gái tôi được sống trong ơn gọi Tận Hiến trong nhà Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ ở Nha Trang. 18 năm sau, bà nội tôi chịu phép Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể trước khi bà qua đời. Về phần tôi, sau khi chịu phép Rửa Tội được 2 tháng sau tôi biết đi, đứng, chạy nhảy và ăn nói như bao đứa trẻ khác. Suốt thời gian 23 năm qua, tôi luôn nhận được biết bao ơn lành của Chúa và Đức Mẹ trong cuộc sống. Chính Chúa và Đức Mẹ đã sử dụng tôi như công cụ đưa ơn cứu độ của Chúa đến với tất cả những ai mà tôi gặp gỡ trong cuộc sống này.

Mari Nguyen Nguyen

Comments are closed.